Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 25 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 27 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 27 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 27 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 41 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 44 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 53 Notice: Undefined index: 289 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 77 Notice: Undefined index: 289 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 77 Notice: Undefined index: 289 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 77 Notice: Undefined index: 289 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 77 Notice: Undefined index: 289 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 77 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Notice: Undefined index: 278 in /home/ww2.congly.com.vn/public_html/application/news/frontend/congly_detail.php on line 113 Một số vấn đề áp dụng pháp luật hôn nhân gia đình (Bài 1): Xác định tài sản chung của vợ chồng

Một số vấn đề áp dụng pháp luật hôn nhân gia đình (Bài 1): Xác định tài sản chung của vợ chồng

20/4/2013 12:41 UTC+7

Xác định tài sản chung, chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại và xác định tài sản riêng của vợ chồng là những vấn đề còn có những vướng mắc trong áp dụng pháp luật. Báo Công lý xin giới thiệu một số bài viết về các vấn đề này.

Vấn đề xác định tài sản chung của vợ chồng đã được quy định trong luật, tuy nhiên qua thực tế xét xử cho thấy để áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, phải đánh giá toàn diện và chính xác, nhằm xác định được bản chất của sự việc.

Các nguồn hình thành tài sản chung

 

Khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”.

 

Từ quy định nói trên có thể thấy việc hình thành tài sản chung rất sinh động, đa dạng, nhưng tựu chung có thể từ các nguồn sau:

 

Tài sản chung hình thành từ kết quả của lao động

 

Thông thường tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân đều được xác định là tài sản chung vợ chồng. Những tài sản đó có thể là do vợ và chồng cùng trực tiếp lao động, hoặc do một trong hai bên trực tiếp lao động để làm ra sản phẩm, sản phẩm đó để dùng trong gia đình, còn dư ra, đem bán để có sự tích lũy, cũng có thể toàn bộ sản phẩm do vợ chồng làm ra đều đem bán, tạo ra thu nhập cho gia đình; tài sản chung cũng có thể hình thành qua việc được trả công lao động, thuê người khác làm, do tổ chức sản xuất, kinh doanh mà có v.v…

 

Có thể thấy rằng thông qua sức lao động của vợ, chồng được thể hiện dưới các hình thức khác nhau để tạo nguồn thu nhập, tạo ra tài sản trong gia đình, dù các tài sản đó được hình thành dưới bất kỳ hình thức nào, nhưng nếu đó là kết quả của lao động chân chính, đều được công nhận là tài sản chung vợ chồng.

 

Tài sản vợ chồng được hình thành do được thừa kế chung:

 

Đây là trường hợp vợ chồng cùng được hưởng thừa kế theo di chúc của người để lại di sản. Trong di chúc thể hiện rõ để lại tài sản cho cả vợ và chồng. Trong các trường hợp có tranh chấp, thì phải chú ý xem kỹ nội dung, lời văn di chúc. Nếu di chúc cho một bên được quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, còn một bên chỉ được sử dụng và hưởng hoa lợi từ di sản cho đến khi nào chết, thì quyền lợi của mỗi bên (vợ và chồng) trong di chúc là khác nhau.

 

Tài sản chung được hình thành từ việc được tặng cho:

 

Đối với trường hợp được tặng cho chung thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. Vợ chồng có thể được tặng cho tài sản thông qua hợp đồng bằng văn bản, và cũng có thể là hợp đồng miệng, hay còn gọi là tặng cho trên thực tế.

 

Sở dĩ gọi là “tặng cho trên thực tế” vì việc tặng cho này không thể hiện bằng văn bản, mà chỉ nói miệng trong nội bộ gia đình và chỉ thể hiện rõ trong quá trình chuyển giao trên thực tế. Do đó, khi vợ chồng ly hôn, một bên khai tài sản chung do được bố mẹ cho, một bên khai không phải là tài sản chung của vợ chồng. Phía bố mẹ cũng đứng về phía con, khai là chỉ cho sử dụng chứ chưa cho. Đây là một vấn đề rất phức tạp, tác giả đã phân tích kỹ trong chuyên đề “Về những khó khăn, vướng mắc khi xác định việc cho hay chưa cho tài sản khi các con ra ở riêng - một số kiến nghị về hướng giải quyết”, (được in trong quyển “Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử” tái bản lần thứ 4 phát hành vào cuối tháng 1/2013 của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia).

 

Vì vậy, trong bài này, tác giả chỉ lưu ý đối với các trường hợp này, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, đánh giá chứng cứ toàn diện, khách quan là việc làm cực kỳ quan trọng. Khi đã đủ căn cứ kết luận là vợ chồng đã được cho trong thực tế (Ví dụ: Vợ chồng đã xây nhà 5 tầng trên diện tích đất, có khuôn viên riêng, vợ chồng đã quản lý, sử dụng trong nhiều năm hoặc đã kê khai, được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, bố mẹ biết, nhưng không phản đối hoặc đồng ý cho con đi kê khai, xin cấp giấy v.v…) thì phải xác định là tài sản chung.

 

Xem xét kỹ nội dung của văn bản tặng cho 

 

Tài sản chung có được có thể là do cùng được tặng cho nhà tình nghĩa, được Nhà nước, tổ chức, cá nhân hỗ trợ cho gia đình nghèo…

 

Đối với việc tặng cho được thể hiện bằng văn bản, thông thường việc thu thập, đánh giá chứng cứ rất thuận lợi, nhưng khi xét xử nếu không nghiên cứu kỹ văn bản tặng cho cũng sẽ dẫn đến sai lầm nghiêm trọng, như trong văn bản tặng cho có ghi tên của cả hai vợ chồng, song ở phần bên được tặng cho lại chỉ ghi tên vợ hoặc chồng thì đó không phải là tặng cho chung. Dưới đây là một ví dụ:

 

Chị Đinh Thị Hoa xin ly hôn anh Nguyễn Quyền. Bố anh Quyền (là ông Quảng) viết giấy tặng cho con tài sản và tự ký thay con vào giấy tặng cho, chính quyền xã đã xác nhận vào đơn, Toà án sơ thẩm xác định là tài sản riêng, Toà phúc thẩm xác định là tài sản chung vơ chồng, Toà án cấp giám đốc thẩm xác định không phải là tài sản chung của vợ chồng.

 

Năm 1987, chị Hoa kết hôn với anh Quyền, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có 1 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh Thu sinh năm 1988. Ngày 12/5/1993, ông Nguyễn Quảng có đơn “cho nhà và hoa màu”. Trong đơn có ghi bên cho: là ông Quảng, bà Khanh, bên được cho: “con trai Nguyễn Quyền”, “có vợ là Đinh Thị Hoa”. Đơn này đã được Ủy ban nhân dân phường xác nhận. Năm 1994, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, năm 1996 chị Hoa yêu cầu ly hôn và xin được nuôi con chung, anh Quyền đồng ý. Về tài sản ban đầu chị Hoa khai vợ chồng có 1 sổ tiết kiệm có số tiền 10 triệu, 1 xe máy Minsk, vô tuyến, quạt, tủ bán hàng. Sau đó, chị khai tài sản vợ chồng còn một thửa đất trên có một nhà tranh tre, do bố mẹ anh Quyền cho, chị Hoa yêu cầu chia cho chị bằng tiền là 7 triệu đồng hoặc 1/2 diện tích đất.

 

Về phía anh Quyền thì công nhận các động sản là tài sản chung của vợ chồng, còn nhà đất là của bố mẹ anh và bố mẹ anh chưa cho vợ chồng.

 

Vợ chồng ông Quảng, bà Khanh (là bố, mẹ anh Quyền) cho rằng toàn bộ nhà đất của ông bà chưa cho vợ chồng anh Quyền. Sở dĩ ông làm giấy tờ có ý định sang tên cho riêng anh Quyền để các con của ông bà khỏi tranh chấp.

 

Tại Bản án phúc thẩm số 16 ngày 7/6/1997, TAND tỉnh TN đã quyết định: Y án sơ thẩm về phần hôn nhân và nuôi con. Huỷ phần phân chia tài sản, giao cho TAND thành phố TN điều tra xét xử sơ thẩm lại.

 

Tại Bản án sơ thẩm số 54 ngày 4/12/1997, TAND thành phố TN vẫn xác định căn nhà trên 320m2 đất ở phường Quang Trung không phải là tài sản chung vợ chồng. Tại Bản án phúc thẩm số 4 ngày 21/4/1998, TAND tỉnh TN đã quyết định sửa án sơ thẩm và xử: Phân chia động sản và xác định nhà đất ở phường Quang Trung là tài sản chung vợ chồng, và phân chia cho mỗi bên ½ (Tòa phúc thẩm nhận định bố mẹ anh Quyền đã cho vợ chồng nhà đất).  

 

Tác giả thấy rằng: Nguồn gốc căn nhà là của vợ chồng ông Quảng (bố mẹ anh Quyền). Do có ý đồ cho anh Quyền một phần đất và để tránh việc tranh chấp về nhà đất giữa các con, nên ngày 12/5/1993 ông Quảng đơn phương làm đơn xin tách đất cho anh Quyền. Tại đơn trên ông Quảng ký đứng tên xin tách đất và ký thay cho anh Quyền (người được cho). Đồng thời, ông Quảng yêu cầu và được Tổ dân phố, Ủy ban nhân dân phường xác nhận đồng ý. Sau đó tự bà Khanh (vợ ông Quảng) đến phòng nhà đất và xây dựng thành phố TN để làm thủ tục. Tại chứng thực số 837MB-XD ngày 14/6/1993 Phòng xây dựng và nhà đất thành phố TN đồng ý cho ông Quảng chuyển nhà và hoa màu cho anh Quyền.

 

Theo yêu cầu của ông Quảng ngày 25/12/1993 cán bộ địa chính đã đến đo diện tích và xác định ranh giới phần đất ông Quảng định cho anh Quyền, khi đó không có mặt vợ chồng anh Quyền, ông Quảng đã trực tiếp ký biên bản. Toàn bộ quá trình làm các thủ tục về nhà đất trên đều do vợ chồng ông Quảng, bà Khanh thực hiện. Còn vợ chồng anh Quyền không biết và không thực hiện các nghĩa vụ của người được cho. Trong thực tế vợ chồng ông Quảng vẫn là người trực tiếp quản lý, sử dụng và nộp thuế cho Nhà nước đối với thửa đất trên. Còn vợ chồng anh Quyền ở chỗ khác. Hơn nữa, toàn bộ giấy tờ có liên quan đến nhà đất trên ông Quảng không giao cho vợ chồng anh Quyền. Xét về “đơn xin cho nhà và hoa màu” do ông Quảng lập ngày 12/5/1993 với nội dung: Người cho là ông Quảng, bà Khanh, bên được cho là “con trai Nguyễn Quyền”. Nhưng cho đến nay bên được cho cũng chưa ký vào giấy tờ tặng cho; bên cho chưa giao và bên được cho chưa tiếp nhận tài sản tặng cho trên thực tế.

 

Trong trường hợp này, lẽ ra phải xác định nhà đất đang tranh chấp không phải là tài sản chung của vợ chồng anh Quyền, chị Hoa, đồng thời bác yêu cầu của chị Hoa như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với nhà đất nêu trên mới đúng. Nhưng Toà án cấp phúc thẩm lại xác định nhà đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng anh Quyền, chị Hoa, từ đó chia cho chị Hoa 1/2 nhà đất là không đúng, làm thiệt hại quyền lợi của các đương sự khác.

 

Sai lầm của Tòa án cấp phúc thẩm thể hiện ở hai khía cạnh: Một là: ý thức chủ quan và thể hiện trên giấy tờ là vợ chồng ông Quảng cho riêng con trai, thì Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định là cho chung vợ chồng người con là không đúng. Hai là: dù có coi là cho chung vợ chồng con như quan điểm của Tòa án cấp phúc thẩm, thì lẽ ra cũng phải coi bên anh Quyền có công sức đóng góp nhiều hơn. Khi phân chia phải chia cho anh Quyền nhiều hơn, Tòa án cấp phúc thẩm lại chia mỗi bên hưởng ½ là không hợp lý.

 

Vì vậy, phải xem xét kỹ nội dung của văn bản tặng cho để hiểu đúng ý chí của bên tặng cho. Nếu nội dung văn bản tặng cho có nhiều cách giải thích, cách hiểu khác nhau và bên tặng cho còn sống, thì cần hỏi người tặng cho và những người có biết, chứng kiến việc tặng cho, đồng thời phải xem xét diễn biến trên thực tế từ khi được tặng cho, đến khi có tranh chấp (bên được tặng cho đã nhận tài sản, việc sử dụng, quản lý thế nào? sau đó các bên kê khai đăng ký, đối với tài sản phải kê khai, đăng ký như thế nào? v.v…) để đánh giá toàn diện và chính xác, nhằm xác định được bản chất của sự việc. Nếu bố mẹ dù đã tuyên bố công khai, có nhân chứng về việc tặng cho, nhưng vợ chồng chưa nhận, chưa quản lý sử dụng tài sản, bố mẹ vẫn quản lý và vẫn kê khai, đứng tên trong sổ sách như sổ địa chính v.v…, thì việc tặng cho đó chưa hoàn thành (về cả hình thức hay thực tế). Trong trường hợp này không công nhận tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.

 

Trong văn bản ở phần tặng cho chỉ ghi tên chồng, nhưng tài sản được tặng cho phải đăng ký quyền sở hữu. Sau khi được tặng cho người chồng đã tự đi làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản và giấy chứng nhận quyền sở sử dụng đất ghi tên của cả vợ và chồng thì phải xác định tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. Do người chồng đã nhập vào khối tài sản chung.

 

(Còn nữa)

 

Thu Hương - Duy Kiên

 

 

Thích và chia sẻ bài này trên:Facebook