Những trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí

12/7/2013 09:16 UTC+7
Trong BLTTDS không quy định những trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí. Nhưng trong Pháp lệnh Án phí lại quy định về những trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu tiền án phí.
Vấn đề này  được quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh Án phí như sau: “Những trường hợp sau đây không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí: 
 
1) Người khởi kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử Hội đồng nhân dân.
 
2) Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước.
 
3) VKS khởi tố vụ án hành chính.
 
4) VKS kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm.
 
5) Cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm”.
 
Trong thực tế áp dụng Điều 10 của Pháp lệnh Án phí đang có nhận thức và áp dụng khác nhau về quy định tại khoản 2 Điều 10 của Pháp lệnh Án phí. Cụ thể là: Có ý kiến đặt câu hỏi là: Cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 10 của Pháp lệnh Án phí là những cơ quan nào? Trường hợp Hội liên hợp phụ nữ xã khởi kiện yêu cầu Tòa án huyện hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh A và chị M nhưng không được Tòa án chấp nhận thì Hội phụ nữ xã có phải chịu án phí không? (có đề cập vụ án cụ thể).
 
Một số vướng mắc nêu trên, ý kiến của chúng tôi như sau:
 
Một là: Về cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 10 của Pháp lệnh Án phí. Theo chúng tôi cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 10 của Pháp lệnh Án phí là cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 162 BLTTDS. Vì Điều 162 BLTTDS là điều luật quy định về: quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Điều 162 BLTTDS quy định cụ thể như sau:
 
Ảnh minh họa
 
- Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp mà Luật Hôn nhân và gia đình có quy định.
 
- Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định.
 
- Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
 
Cơ quan, tổ chức quy định trong Điều 162 BLTTDS và quy định trong Điều 10 của Pháp lệnh Án phí là cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Còn tổ chức là bao gồm tổ chức chính trị như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ, Mặt trận tổ quốc… tổ chức chính trị xã hội và tổ chức xã hội.
 
Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự theo quy định tại Điều 162 BLTTDS thì không phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm cũng như án phí dân sự phúc thẩm trong các trường hợp Tòa án chấp nhận hoặc Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
 
Hai là: Hội liên hiệp phụ nữ xã khởi kiện yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Theo bạn đọc cho biết, có trường hợp Hội liên hiệp phụ nữ xã khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hôn nhân trái pháp luật do vi phạm tuổi kết hôn: người vợ khi kết hôn chưa đủ 18 tuổi. Nhưng Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Việc này cũng có ý kiến khác nhau về giải quyết của Tòa án và việc án phí. Về vấn đề này ý kiến của chúng tôi như sau:
 
- Về chủ thể khởi kiện là Hội liên hiệp phụ nữ. Trong Điều 162 BLTTDS và trong các Điều 15, 55, 77 Luật Hôn nhân và gia đình chỉ quy định là Hội liên hiệp phụ nữ mà không quy định là Hội liên hiệp phụ nữ ở cấp nào (xã hoặc tỉnh hoặc trung ương). Do đó Hội liên hiệp phụ nữ xã là chủ thể khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 162 BLTTDS.
 
- Về phạm vi khởi kiện của Hội liên hiệp phụ nữ. Trong khoản 1 Điều 162 BLTTDS có quy định như sau: “… Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật Hôn nhân và gia đình” quy định. Theo quy định này thì phạm vi khởi kiện của Hội liên hiệp phụ nữ là chỉ có điều luật nào trong Luật Hôn nhân và gia đình có quy định Hội liên hiệp phụ nữ được khởi kiện thì Hội Liên hiệp phụ nữ mới được thực hiện quyền khởi kiện. Cụ thể là có quy định tại 3 điều luật là các Điều 15, 55 và Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình (Điều 15 quy định về quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Điều 55 quy định về quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, Điều 77 quy định về quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi).
 
- Về tuổi kết hôn. Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định tuổi kết hôn như sau: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên”. Theo quy định này thì nam bước sang tuổi 20, nữ bước sang tuổi 18 là được quyền kết hôn. Vì khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình không quy định nam phải đủ 20 tuổi, nữ phải đủ 18 tuổi mới được kết hôn. Do đó Tòa án không chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ vì người phụ nữ khi kết hôn ở tuổi 18 là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
 
Trường hợp này Hội liên hiệp phụ nữ xã, chủ thể khởi kiện, tuy không được Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện nhưng thuộc trường hợp không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Pháp lệnh Án phí. 
 
Đỗ Văn Chỉnh
Thích và chia sẻ bài này trên:Facebook

Liên kết tài trợ