Thủ tướng phê duyệt Đề án bảo hiểm y tế toàn dân: Hỗ trợ để người dân tham gia bảo hiểm y tế

02/4/2013 21:34 UTC+7

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020 với mục tiêu đến năm 2020 có trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế.

Tăng tỷ lệ bao phủ BHYT

Một trong các giải pháp của Đề án là tăng tỷ lệ BHYT, trong đó, đối với các nhóm đối tượng đã đạt tỷ lệ bao phủ trên 90% thì tiếp tục duy trì tỷ lệ bao phủ và các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường tiếp cận các dịch vụ y tế đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHYT.
 
Nhiều bệnh viện quá tải bệnh nhân BHYT
 
Đối với một số nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia BHYT thấp, cùng với giải pháp chung (như tăng cường công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHYT, vận động tham gia, tăng cường tính hấp dẫn của BHYT), kết hợp với những giải pháp cụ thể phù hợp với từng nhóm đối tượng.
 
Cụ thể, với nhóm người lao động trong các doanh nghiệp, sẽ thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT ở các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm; đồng thời xây dựng cơ chế thu đóng BHYT về thời gian (chu kỳ đóng), hình thức thu phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp...
 
Đối với người thuộc hộ cận nghèo, trình Chính phủ hỗ trợ 100% mức đóng đối với người thuộc hộ cận nghèo đang sinh sống tại vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
 
Còn đối với học sinh, sinh viên, nghiên cứu việc nâng mức hỗ trợ đóng BHYT từ ngân sách nhà nước lên tối thiểu 50% mức đóng.
 
Hộ gia đình nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình, tham gia BHYT theo hình thức hộ gia đình, áp dụng với tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình và thực hiện giảm mức đóng theo quy định của Luật BHYT.
 
Bảo đảm chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người bệnh 
 
Hiện nay, tại Tp Hồ Chí Minh, tính đến hết năm 2012 đã có hơn 4,6 triệu người tham gia BHYT, chiếm hơn 63% dân số. Hiện thành phố có 1,4 triệu học sinh, sinh viên và hơn 1,7 triệu người lao động tham gia BHYT. 
 
Thống kê của Bảo hiểm xã hội cho thấy, phần lớn người tham gia BHYT tự nguyện ở thời điểm hiện tại là người mắc bệnh. Tại bệnh viện Ung Bướu và bệnh viện Truyền máu Huyết học, tỷ lệ đối tượng tham gia BHYT tự nguyện mắc bệnh ung thư chiếm tới 53% tổng số lượt nằm viện và khám bệnh, chiếm 45% tổng chi phí khám chữa bệnh. Do mức thu nhập của người dân chưa cao, chỉ khi bị ốm đau bệnh tật, thậm chí bệnh nặng người dân mới chủ động tham gia BHYT.
 
Hiện nay, số người tham gia BHYT ở Tp. Hà Nội đạt khoảng 70% dân số, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, toàn thành phố còn 10 huyện có tỷ lệ tham gia thấp, dưới 50%, 8 huyện có xu hướng giảm số người tham gia trong 2 năm qua và tỷ lệ người cận nghèo tham gia BHYT còn thấp. Bên cạnh đó, một số bệnh viện chưa đáp ứng được yêu cầu khám chữa bệnh BHYT hoặc thủ tục gây phiền hà.
 
Do đó, cùng với việc tăng tỷ lệ bao phủ BHYT, Đề án cũng đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh BHYT, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tinh thần, thái độ, đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người bệnh có thẻ BHYT ở cả hệ thống cơ sở khám chữa bệnh nhà nước và tư nhân.
 
Nâng cấp, mở rộng và xây mới để tăng nhanh số giường bệnh cho các bệnh viện hiện đang quá tải trầm trọng tại tuyến trung ương và hai thành phố Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh. Đồng thời, hình thành mạng lưới bệnh viện vệ tinh của một số bệnh viện trung ương, bệnh viện tuyến cuối của Tp. Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh thuộc 5 nhóm chuyên khoa: Ung bướu, tim mạch, chấn thương chỉnh hình, sản, nhi tại các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh. Đầu tư, nâng cấp, mở rộng giường bệnh cho các bệnh viện nhận làm bệnh viện vệ tinh của các bệnh viện thuộc nhóm chuyên khoa trên.
 
Bên cạnh đó, cần phải nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ y tế tuyến dưới cũng như đẩy mạnh công tác y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu; đổi mới cơ chế tài chính và phương thức thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế...
 
Các giải pháp của Đề án này được thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2015. Sau năm 2015, mục tiêu và các giải pháp sẽ được điều chỉnh trên cơ sở tổng kết quá trình triển khai Đề án giai đoạn 2012 - 2015 và thực hiện các quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT.
 
Kinh nghiệm quốc tế 
 
Theo Đề án, thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), hiện có 60 nước thực hiện cơ chế BHYT. Những nước đạt được mục tiêu BHYT toàn dân đều có Luật BHYT và thực hiện trên cơ sở bắt buộc toàn dân tham gia. Mặc dù có Luật nhưng thời gian quá độ để đạt được mục tiêu toàn dân tham gia BHYT của mỗi nước rất khác nhau. Theo nghiên cứu của WHO, quãng thời gian này trung bình là 70 năm và rất khác nhau theo các quốc gia, ví dụ: 79 năm (Áo), 118 năm (Bỉ), 20 năm (Costa Rica), 127 năm (Đức), 84 năm (Israel), 36 năm (Nhật), 26 năm (Hàn Quốc) and 72 năm (Luxembourg). 
 
Hàn Quốc, nước thành công nhất ở khu vực châu Á trong thực hiện BHYT toàn dân trong một thời gian tương đối ngắn. Nếu tính từ khi có Luật BHYT năm 1963 (đến nay đã nhiều lần sửa đổi) cho đến khi đạt được BHYT toàn dân năm 1989 thì mất 26 năm vì trong 14 năm đầu tiên là dựa trên cơ sở tự nguyện. Đến năm 1977, Hàn Quốc ban hành Luật BHYT bắt buộc và sau 12 năm (đến năm 1989) thì đạt được mục tiêu bao phủ toàn dân.
 
Từ thực tiễn trên, Việt Nam cần đưa ra lộ trình BHYT toàn dân phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, khả năng đảm bảo ngân sách của Chính phủ và khả năng đóng góp của người dân. 
 
 
Tp. Hồ Chí Minh đã cấp hơn 246.500 thẻ BHYT hỗ trợ cho đối tượng chính sách, xã hội với số tiền 351 tỷ đồng từ ngân sách, trong đó có khoảng 40% thẻ cho các hộ cận nghèo. Tuy nhiên, hiện chỉ 85% số trẻ dưới 6 tuổi được cấp thẻ BHYT và mức bao phủ chính sách của BHYT còn thấp.
 
Đỗ Huyền